ĐỜI SỐNG VÀ LỄ NHỚ CỦA CÁC THÁNH
TRONG THÁNG 9


 

 

Thánh Phêrô Claver (1580-1654)

Sinh h tại năm 1581, tại Verdu xứ Catalogne (Tây Ban Nha) trong một gia đ́nh cổ kính khá gi nhưng nay đă thất bại, chỉ c̣n lại ḷng đạo đức. Theo học trường ḍng Tên ở Barcelone và vào ḍng. Khi đang học triết tại Majorque, Người được gặp thánh Alphonse Rodrigue, thầy giữ cửa trường. Thánh nhân thúc dục Phêrô “đi v phía tây Ấn Độ và cứu hàng triệu linh hồn đang gặp khốn khó.” Claver vâng lời và năm 1610, xuống tàu đi Carthagène biển Caraibe, một chợ buôn nô l lớn Tân Thế Giới, mỗi tháng có hàng ngàn nô l da đen được chở đến.

Cha Claver lên các tàu buôn nô l, đem theo bitqui, nước chanh, thuốc lá. Người nói: “Chúng tôi nói với họ bằng hay tay, trước khi nói bằng lưỡi.” Trung b́nh, trong cuộc hải hành, ba người chết một, và việc đầu tiên của Người là rửa tội cho người hấp hối. Khi Người xuống dưới hầm tàu, cả người đen thông ngôn cũng không chịu được mùi hôi xú uế. Nhưng cha Claver chịu đựng 44 năm…cho đến chết.

          Người chấp nhận nô lệ như một yếu tố đáng tiếc nhưng không thể tránh được của xă hội. Đời Ngài hy sinh cho cá nhân khi không thay đổi được chế độ. Ngài t gọi là “nô lệ các người nô lệ, đến luôn măi” Công việc tông đồ ưu tiên được dành cho người da đen. Nhưng Người cũng giúp các người da trắng Tây Ban Nha. “Ṭa cáo giải của tôi-Ngài nói với các bà sang trọng-được làm nên cho người nghèo đen, không phải cho các bà sang trọng v́ nó chật hẹp quá.”

          Cha Claver qua đời năm 1684, được tôn phong hiển thánh ngày 15 tháng 6 năm 1888 do Đức Lêô XIII.

          L nh: 9 tháng 9

 

Thánh Gioan Kim Khẩu - Giám Mục, Tiến Sĩ, (345-407)

          Sinh h tại Antioche (Thổ Nh-K) trong một gia đ́nh quan lại, được rửa tội lúc 23 tuổi. Người hướng về đời sống ẩn sỉ nhưng sức khỏe không cho phép. Được thụ phong linh mục năm 386, người nổi tiếng về khoa hùng biện đặc biệt, nên được gọi là Kim Khẩu, với một nền thần học vững chắc. Năm 398, người được đề c Giáo Ch Constantinople. V́ thẳng thắn chống lại Hoàng Hậu Endoxie, người bị lưu đày hai lần. Lần thứ hai, người qua đời tại Cappadoce trong cuộc đi đày đến núi Caucase. Người để lại rất nhiều tác phẩm giảng thuyết, khảo cứu thần học, dạy giáo lư, khiến người được coi là Tiến Sĩ Hội Thánh Hy Lạp. Người được công đồng Chalcéedoine năm 451 tôn phong Tiến Sĩ Hội Thánh. Người là quan thầy các nhà hùng biện công giáo.

          L nh: 13 tháng 9

 

Thánh Cyprien Carthage (+250)

          Xuất thân là một luật sư Lamă, người trở lại đạo lúc 40 tuổi, làm linh mục và giám mục Carthage (240) ở Bắc Phi. Trong 10 năm giám mục, người gặp nhiều khó khăn. Hoàng đế Dèce m một cuộc bắt bớ đạo khủng khiếp. Cyprien như các giám mục lẩn trốn. Nhưng khi t́nh thế lắng dịu, vấn đề khó khăn được đặt ra: Phải đối xử làm sao với các người “Lapsi,” những người đă chối đạo v́ nhát sợ? Phải thẳng nhặt hay khoan hồng? Giáo Hội chia rẽ. Tại Carthage, Cyprien tuy muốn đối xử thẳng nhặt, nhưng vẫn ban việc đền tội vừa phải. Năm 255, lại xảy ra một cuộc tranh chấp khác về phép rửa tội do người lạc giáo ban. Giáo Hội Phi Châu và Đông Phương không nh́n nhận, Giáo Hội Lamă lại nh́n nhận thành sự. V việc đó, Cyprien chống đối mạnh Đức Etienne I. Nhưng một cuộc bách hại xảy ra. Cyprien từ chối tế thần, nêu gương cho cả đoàn chiên và bị trảm quyết. 10 năm giám mục là 10 năm hy sinh, đức tin cao độ. Người lại để một công tŕnh thần học ảnh hưởng cả Tây Phương như cuốn De lapsis, cuốn Giáo Hội duy nhất. “Không có thể có Chúa là Cha nếu không có Giáo Hội là Mẹ.” Định nghĩa của người về Giáo Hội đă được Vatican II lặp lại. (Giáo Hội số 4) “Cng đồng dân Chúa trong sự hiệp nhất Cha, Con và Thánh Thần.” Người là một thánh Tiến Sĩ  Latinh, là quan thầy Bắc Phi, Giáo hội ở đó mừng long trọng lễ người.

          L nh: 16 tháng 9.

 

Thánh Matheô Tông Đồ (Thế k I)

          Tên Do Thái của người là Lêvi; tại Caphanaum, người làm nghề thu thuế, v́ liên h với ngoại bang Lamă và hay sách diễu, người thu thuế được liệt vào hạng người tội lỗi công khai. Chúa Giêsu đă đến kêu gọi ông ngay nơi két bạc của ông và kết nạp vào thành phần tông đồ làm cho mọi người ngạc nhiên cho là một gương xấu. Từ đây Matheô theo Chúa măi. Sau thi Chúa lên trời, ông đi rao giảng tin mừng. Papias, Giám mục Hiérapolis, sinh năm 70 và vào năm 125 đă viết cuốn “Cắt nghĩa các lời của Chúa” đă nói đến Matheô. Và Eusèbe nói: Matheô đă viết danh sách các phép lạ Chúa làm và mỗi lời Chúa nói được giải thích theo tài năng của ông.” Người viết bằng tiếng Araméen và sau đó vào năm 80, bản ấy được dịch ra tiếng Hy Lạp và lưu lại đến hôm nay.  Tuy ra sau Phúc âm Marcô, Phúc âm Matheô mở đầu Tân Ước. Viết cho Người Do Thái, Matheô cho thấy những ǵ Cựu Ước tiên báo đă ứng nghiệm nơi Chúa Giêsu.

          Theo Eusèbe, người giảng cho người Do Thái 15 năm sau ngày Chúa Giêsu chịu chết, rồi người đi rao giảng cho xứ Ethiopie và chết tử đạo.

          L nh: 21 tháng 9.

 

Thánh Côme và Damien T Đạo (+300)

          Hai v cùng chịu tử đạo, hai anh em cùng làm thầy thuốc, cứu dân độ thế, nhưng không nhận thù lao, tử đạo Cyr, x Syria.

          Được tôn kính từ thế k V tại Đông và Tây Phương, nhiều nhà thờ dâng kính hai Đấng.

          Được đặt làm quan thầy của các y sĩ, giải phẩu gia, các y tá và các bà đỡ.

          L nh: 26 tháng 9.

 

Thánh Vinh Sơn Phaolô (1581-1660)

          Sinh h tại Pouy gần Dax (Pháp), cậu bé chăn chiên ấy vẫn giữ giọng thổ âm, rất thông minh với ḷng ước ao làm linh mục. Sau khi học thần học ở Toulouse, Vinh Sơn lănh chức linh mục năm 1600. Trong một cuộc hải hành từ Marseille qua Narbonne, Người rơi vào tay bọn cướp biển và bị cầm tù ở Tunis trong hai năm. Năm 1613, Người được chọn làm thái phó của các con của Emmanuel de Gondi, vị quan trông coi đạo chiến thuyền hoàng gia. Vào thời kỳ này, Vinh Sơn làm lời hứa hiến dâng cuộc đời linh mục phục vụ người nghèo. Năm 1617, Người tổ chức hội từ thiện đầu tiên, qui tụ các bà giúp người bần khổ, dưới sự điều khiển của Bà Louise de Marillac, một góa phụ do Vinh Sơn linh hướng. Hội bành trướng mau lẹ.

          Năm 1619, người được đặt làm tuyên úy trưởng đạo chiến thuyền, người gặp một môi trường  đau khổ khác để giúp đỡ. T năm 1624, Bà Gondi cho người phương tiện để giúp người thôn quê nghèo khổ trong lănh địa của Bà. Vinh Sơn nẩy ư kiến lấp một tu hội linh mục chuyên lo mục vụ cho thôn quê. Đó là gốc tích của hội ḍng Thừa Sai Lazaristes (1635) mang tên ngôi nhà mẹ Saint Lazare Paris. Công việc mục vụ cần được chẩn bị trong chủng viện như công đồng Triđentinô đ̣i hỏi và đó là công việc cấp bách. Thánh nhân lập chủng viện của ḍng.

          Đồng thời thánh nhân nghĩ đến người nghèo và dùng thiếu nữ nghèo thôn quê để phục vụ h. Người lập ḍng Nữ Bác Ái, áo ḍng là b áo dân nghèo, “đường ph là tu viện.” Đó là ḍng Nữ Bác Ái rất phồn thịnh ngày nay. Người c̣n lập nhiều cơ s bác ái như viện trẻ em b rơi, nhà thương Hoetl Dien….

          Vinh Sơn dùng kinh nguyện để h tr công việc bác ái. Người nói: “Thiên Chúa không từ chối ǵ qua lời kinh nguyện, kể c việc truyền bá Phúc âm.” Người sống khiêm tốn nhưng can đảm, vừa rộng răi với người khác nhưng nhặt nhiệm với chính ḿnh và coi như ḿnh chưa hành động đủ cho Chúa và các linh hồn. Người được coi là “Vị đại thánh của thế k”, được tôn phong quan thầy mọi công việc từ thiện (1885). Đức Clement XII phong thánh năm 1737 và đức Lêô XIII đặt làm quan thầy việc từ thiện.

          L nh: 27 tháng 9.

          Có 27 v Thánh và Chơn phước mang danh hiệu Vinh Sơn.

 

Thánh Venceslas Bohême (907-929)

          Venceslas đệ nhất sống vào lúc mà xứ Bohême chưa được hoàn tất Kitô hóa. Người được bà là nữ thánh Ludmila giáo dục và truyền cho ḷng đạo đức trong khi em là Boleslas và chính bà mẹ lại đứng đầu phe chống đối đạo. Năm 920, sau khi thân phụ qua đời và bà là thánh nữ Ludmila b hai lănh chúa ngoại đạo giết th́ Venceslas trở nên vua ra nhiều nghiêm lệnh; Tuy nhiên người làm ḥa với mẹ và cai tr dân như một nhà vua Kitô hữu sốt sắng.

          Người cộng tác chặt chẽ với Giáo hội, trừng phạt những nhà quí phái vô kỷ luật, giao hảo với vua Đức Quốc Henri đệ nhất, mang lại ḥa b́nh cho xứ s. Tuy nhiên, người em là Boleslas chủ chương chính sách quốc gia quá khích, quyết định thủ tiêu anh vào ngày l quan thầy là thánh Cômeva Damien. Hôm sau, khi Venceslas đi vào thánh đường Boleslava dự thánh l th́ b em tấn công tại cổng nhà thờ. Người ném gươm đi và nói: “Một người Kitô hữu không thể phạm tội giết em.” Người tha thứ và cầu cho em rồi tắt thở.

          Thánh nhân được chôn gần nhà thờ, phần mộ tr nên linh thiêng và năm 932, khi em là Boleslas trở thành vua, đă cung nghinh xác thánh của and về Prague.

          Thánh nhân được tôn phong hiển thánh tử đạo vào thế k X, được chọn làm quan thầy xứ Bohême. Chiếc vương miện thánh Venceslas”. Ngày nay, thánh nhân là thánh bảo vệ x Tchécoslovaquie và bài hát “Kính thánh Venceslas”là bản hát phổ thông nhất trong xứ.

          L nh: 28 tháng 9.

 

Thánh Micae - Tổng Lănh Thiên Thần

          Nhân ngày k niệm thánh hiến vương cung thánh đường kính thánh Micae, Giáo Hội mừng chung các Tổng Lănh Thiên Thần Gabirie, Micae và Raphae do Thánh kinh cho biết. Các Đấng được mô tả như những vị thần linh được Thiên Chúa gửi đến, lấy h́nh hài người ta, để ban b mệnh lệnh hay thực hiện sứ mạng. Micae, danh từ Hêbrô có nghĩa “Ai bằng Chúa” ám chỉ s siêu việt của Thiên Chúa, được nói đến trong sách Đamien (10, 13-21) và trong sách Khải Huyền của Thánh Gioan (12,7) như v chiến thắng ma qủi. Giáo Hội coi ngườiĐấng bảo trợ, được tôn kính từ xa  xưa bên Đông phương. Tại Tây phương, nhiều cuộc hiển linh của thánh Micae càng làm cho việc sùng kính khởi sắc hơn, như tại núi Gargano miền nam nước Ư, dưới thời đức Gelase (192-196). Tại Pháp, thánh Thiên Thần là một thánh quan thầy, tuy việc hiện ra ở núi Mont-Saint-Michel không th kiểm chứng được, nhưng nơi đây đă trở nên một vị trí hành hương lớn. Theo thánh nữ Jeanne d’Arc, Thánh Micae đă thúc dục Bà đi gặp vua Charles VII để lên đường đi cứu nước.

          Thánh Micae là quan thầy những người làm nghề phải dùng đến ḷ nung như người làm bánh; Thánh Thiên Thần cũng là quan thầy đoàn lính dù. Nhiều thành phố mang tên Người. Thánh Micae cũng được cầu khi giúp bệnh nhân sắp chết.

          L nh: 29 tháng 9.

 

Tổng Lănh Thiên Thần Gabiriel

          Ba v Thiên Thần được Giáo Hội mừng chung trong ngày kỷ niệm lễ thánh hiến vương cung thánh đường Thánh Micae ở Lamă: đó là các tổng lănh Thiên Thần Gabirie, Micae và Raphae do Thánh kinh cho chúng ta biết, như những vị thiêng liêng được Chúa gửi đến dưới h́nh người ta để thi hành một số mệnh lệnh. Gabirie, danh xưng Hêbrô có nghĩa là “Thiên Chúa là sức mạnh” được gửi đến để báo tin Thiên Chúa can thiệp vào việc cứu rỗi nhân loại và đấng Messia sẽ đến thực hiện. Gabirie được gửi đến với ngôn sứ Danien (Dn 8, 16;9,21-27), với ông Giacaria và Đức Mẹ (Lc 1,11-38;8,16-27;9,21-27). Việc tôn sùng thánh Gabirie nổi bật vào thế k X. Năm 1951, đức Piô XII đặt làm quan thầy các chuyên viên truyền thông (truyền thanh, truyền h́nh, điện thoại).

          L nh: 29 thánh 9.

         

Tổng Lănh Thiên Thần Raphael

          Cùng được mừng chung nhân ngày kỷ niệm cung hiến Đền Thờ Thánh Micae Lamă, ba v tổng lănh Thiên Thần Gabriel, Micae và Raphael, những vị mà chúng ta biết qua Thánh Kinh. Các Ngài là những vị thiên sai do Thiên Chúa gửi đến, dưới h́nh tượng con người để loan báo những mệnh lệnh hoặc để thi hành một số nhiệm vụ.

          Danh xưng Raphael tiếng Hêbrô có nghĩa là “Thiên Chúa chữa lành.” Sách Tobia, mô tă người là hướng dẫn viên ông Tobia con và đă làm cho Tobia Cha khỏi mù mắt. Người liền cho hai cha con biết: “Ta là Raphael, một trong bảy khâm sai của Thiên Chúa hằng ở bên cạnh Ngài trong huy hoàng của Ngài hiện diện.” Mục đích của câu chuyện là để minh chứng sự Thiên Chúa quan pḥng hằng hoạt động trong đời con người và hằng nghe lời cầu xin. Raphael được cầu xin cho thể xác khang an, linh hồn khơe mạnh và là quan thầy người đi đường.

          L nh: 29 thánh 9




 

  © Copyright, 2006 - Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Media – All Rights Reserved